Tóm tắt Người lái đò sông Đà: Những kiến thức trọng tâm nhất (Phần 2)

Tóm tắt Người lái đò sông Đà giúp học sinh phải nắm được nội dung liên quan đến vẻ đẹp thơ mộng của dòng sông và hình tượng người lái đò.

tom-tat-nguoi-lai-do-song-da-nhung-kien-thuc-trong-tam-nhat

2.2: Dòng sông thơ mộng, trữ tình

a. Theo các điểm nhìn

  • Hình dáng

+ Từ trên cao nhìn xuống, tác giả có một cái nhìn khái quát, cụ thể về hình dáng dòng sông: như một sợi dây thừng ngoằn nghèo, đầy cá tính, nhưng cũng có lúc mềm mại, thướt tha như một người đàn bà kiều diễm.

+ “con sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời… bãi lũa nương xuân” -> ngôn từ được trau chuốt, câu văn đầy nhạc tính -> nét đẹp đầy nữ tính của dòng sông, như mang trong mình linh hồn của Tây Bắc.

  • Màu sắc

+ Màu sắc được miêu tả trong mối quan hệ với thời gian : Mùa xuân: màu xanh ngọc bích, mùa thu: lừ lừ chín đỏ.  -> dòng sông hiện lên như một con người, lúc hiền dịu tươi trẻ, lúc giân giữ, bực bộ.

b. Dòng sông Đà gợi cảm như một cố nhân trong Người lái đò sông Đà

–  “Vui như thấy nắng dòn tan sau kì mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quãng” -> cảm giác hạnh phúc dâng trào của một người như vừa tìm lại được chính mình sau chuyến hành trình dài.

– Nhà văn phát hiện vẻ đẹp vừa cổ kính, vừa giàu sức sống của sông Đà.

+ Vẻ đẹp cổ kính: Tác giả cảm nhận qua hình ảnh “mặt nước sông Đà”: sự trong trẻo lấp lánh gợi ra liên tưởng về ánh sáng phản chiếu trên gương mặt của đứa trẻ nghịch ngợm.

+ Tác giả so sánh với ý thơ của người xưa: “Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu”, hai dòng sông cách xa nhau về thời gian và không gian bỗng trở nên gần nhau. Dòng sông Đà như dòng chảy từ kí ức đến hiện tại, như đang cất giữ trong mình vẻ đẹp của quá khứ làm sâu sắc thêm giá trị nội dung và nghệ thuật của Người lái đò sông Đà.

c. Vẻ đẹp hoang sơ, tĩnh lặng, trữ tình ven sông

+ Đặt mình vào điểm nhìn của một người đang ngồi trên chiếc thuyền lặng lẽ trôi trên sông “thuyền tôi trôi trên sông Đà”. -> Câu văn sử dụng toàn các thanh bằng tạo cảm giác nhẹ nhàng, thư thái, yên bình.

+  Thủ pháp lấy động tả tĩnh: “tiếng cá đập nước đuổi đàn hươu vụt biến”: Sự tĩnh lặng như khiến con người lạc vào vùng đất tiền sử: thế giới của cổ tích, thế giới của những câu chuyện huyền thoại. Choáng ngợp bởi thế giới vẽ ra trước mắt, nhà văn buộc lòng thốt lên “bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích thuở xưa” –> một sự vật được ví dụ như một cảm giác gợi nên vẻ đẹp trong trẻo, thuần khiết, tự nhiên. Một không gian đầy sức sống ven sông: sắc xanh của nương ngô, của những bức cỏ gianh đẫm sương đêm -> vẻ đẹp non tơ, mơn mởn.

+ Hình ảnh đàn hươu cúi đầu ngốn ngốn búp cỏ gianh vểnh tai… -> đầy chất thơ, gợi ra vẻ đẹp hữu tình.

  1. Hình tượng người lái đò sông Đà

    3.1: Một con người đời thường với vẻ đẹp bình dị

–  Người lái đò được miêu tả là người làm nghề “chèo thuyền vượt thác” bởi công việc lái đò đã trở thành công việc hàng ngày gần gũi, gắn bó với ông.

–  Cuộc đời gắn bó với sông nước đã để lại dấu ấn trên ngoại hình của ông: 2 chân lúc nào cũng khuỳnh khuỳnh như đang kẹp lấy một cái cuống lái tưởng tượng, ánh mắt lúc nào cũng dõi xa, tiếng nói ầm ào như tiếng thác trên mặt ghềnh.

– Vẻ đẹp bình dị được thể hiện qua cách Nguyễn Tuân gọi tên ông “Người lái đò sông Đà”, “ông đò Lai Châu bạn tôi”.

        3.2 Một người lái đò thông minh, dũng cảm, khéo léo

 – Để làm nổi bật vẻ đẹp trí dũng của người lái đò, tác giả đặt nhân vật vào cuộc đối đầu căng thẳng, kịch tĩnh: hành trình vượt qua thác nguy hiểm, gian lao để chiến thắng dòng sông hung bạo, dữ dội. Dòng sông Đà là kẻ thù, nhưng đồng thời cũng là người bạn lớn của người lái đò.

– Hàng chục năm qua lại trên dòng sông đã giúp người lái đò hiểu được quy luật phục kích của dòng sông, binh pháp của dòng sông.

– Sự hiểm trở này đa giúp ông có những ứng biến thích hợp, mưu trí vượt qua mọi thử thách trên dòng sông.

– Vẻ đẹp về sự kiên cường: ông đò cố nén đau đớn để chèo con thuyền vượt qua những trùng vi thạch trận. Có lúc mắt ông lóa đi, gương mặt ông méo bệch nhưng ông vẫn không chịu khuất phục, đầu hàng.

 – Cuộc vượt thác của ông đò thực sự là một cuộc kịch chiến với đá và nước. Tuy nhiên,  giữa trận chiến đó vẫn vang lên tiếng chỉ huy đầy ngắn gọn, tỉnh táo của người cầm đò: “ông đò ghì cơn lái, nắm chặt lấy bờm, …”

– Cảm  xúc nhẹ nhàng, thư thái khi vượt thách thức là phần thưởng xứng đáng cho những chiến thắng trên quãng sông đầy thử thách.

– Sau trận kịch chiến, người lái đò ung dung đốt lửa nấu cơm như chưa có chuyện gì xảy ra -> Thử thách trên dòng sông chỉ thoáng qua và ông đò đã quá quen thuộc với chuyện đó.

        3.3: Vẻ đẹp tài hoa của người lái đò: người lái đò được miêu tả như một người nghề sĩ trong nghề chèo đò, vượt thác

 – Người nghệ sĩ đam mê hết mực với nghề nghiệp của mình. Cuộc sống gắn bó với dòng sông những chưa một lần người lái đò tỏ ra nhàm chán, mệt mỏi với dòng sông, Mỗi cuộc hành trình vượt thác là một lần đối diện với thử thách mới. Tất cả đã trở thành niềm đam mê, tình yêu ăn sâu vào cảm xúc.

– Bàn tay chèo lái mềm mại, linh hoạt, uyển chuyển, đầy tài hoa.

 + Người lái đò thường xuyên thay đổi chiến thuật

+ Con thuyền lướt nhanh, uyển chuyển như lướt qua một bản giao hưởng với những nốt thăng trầm mềm mại.

+ Ở 3 trùng vi thạch trận, người lái đò sử dụng 3 chiến thuật khác nhau: lúc tiến về tả ngạn, lúc lại về hữu ngạn và cuối cùng là lướt đi giữa tuyến đá gồ ghề.

+ Tâm hồn người lái đò say mê cái đẹp. Sau mỗi cuộc vượt thác, ông đò lại say mê bàn tán về cá dầm xanh, cá anh vũ, về sự giàu đẹp của dòng sông Đà trong tác phẩm Người lái đò sông Đà.