Tóm tắt giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ Bếp lửa

Trong bài viết này, Hoc.vtc.vn sẽ khái quát lại kiến thức trọng tâm về bài thơ Bếp lửa của tác giả Bằng Việt.

Bài thơ Bếp lửa lật giở từng trang kí ức của người cháu về những ngày tháng ấu thơ sống bên bà. Những kỉ niệm dội về qua giọng thơ ấp áp của Bằng Việt đã đem đến những thổn thức trong trái tim của mỗi độc giả. Tóm tắt bài thơ Bếp lửa sẽ khái quát những nội dung chính và giá trị nghệ thuật trong bài.

tom-tat-gia-tri-noi-dung-va-nghe-thuat-cua-bai-tho-bep-luaẢnh minh họa

I. Tóm tắt bài thơ Bếp lửa phần kiến thức chung

         1. Tác giả

  •  Tác giả Bằng Việt, tên khai sinh là Nguyễn Việt Bằng, sinh năm 1941.
  • Quê: Thạch Thất, Hà Tây (Hà Nội)
  • Thuộc lớp nhà thơ trẻ trưởng thành trong thời kì kháng chiến chống Mĩ.
  •  Thơ Bằng Việt trong trẻo, mượt mà, tràn đầy cảm xúc. Thơ ông thường lấy cảm hứng từ những kỉ niệm, những kí ức thời thơ ấu và  những ước mơ tuổi trẻ.
  • Tác phẩm tiêu biểu: Hương cây bếp lửa (thơ in chung với Lưu Quang Vũ), Những gương mặt,những khoảng trời (1973), Cát sáng (1983)…

    2. Tác phẩm:

    a. Hoàn cảnh sáng tác:

  • Sáng tác năm 1963, khi nhà thơ đang là sinh viên theo học ngành Luật tại nước Nga
  • In trong tập “Hương cây – bếp lửa” – tập thơ đầu tay của Bằng Việt in chung với Lưu Quang Vũ.

    b Bố cục:

  • Bố cục bài thơ đi theo mạch cảm xúc: hồi tưởng => hiện tại, kỉ niệm => suy ngẫm.
  • Bố cục chia 4 phần:

          + Khổ thơ đầu: Hình ảnh bếp lửa khơi nguồn cho dòng hồi tưởng, cảm xúc về bà.

          + Ba khổ thơ tiếp: (Tiếp…đến…”niềm tin dai dẳng): Hồi tưởng những kỉ niệm tuổi thơ sống bên bà.

          + Khổ tiếp: (Tiếp…đến…”bếp lửa!”): Suy ngẫm của người cháu về bà, về hình ảnh bếp lửa.

          + Khổ cuối: Nỗi nhớ bà, nhớ quê hương khôn nguôi, da diết.

II. Đọc – hiểu văn bản:

  1. Hình ảnh bếp lửa khơi nguồn cho dòng hồi tưởng, cảm xúc về bà

                          Một bếp lửa chờn vờn sương sớm

                          Một bếp lửa ấp iu nồng đượm

                          Cháu thương bà biết mấy nắng mưa.

  •  Cụm từ “một bếp lửa” được nhắc lại hai lần, trở thành điệp khúc mở đầu bài thơ như muốn khẳng định hình ảnh bếp lửa đã trở đi trở lại trong tiềm thức của tác giả.
  • “Bếp lửa chờn vờn sương sớm” và “ấp iu nông đượm” gợi lên cảm giác ấm áp, thân quen và gắn bó vô ngần.
  • “Cháu thương bà biết mấy nắng mưa” là sự chuyển ý đầy bất ngờ. Hình ảnh bếp lửa như sự mở nguồn cho nỗi nhớ khắc khoải về người bà suốt đời chịu thương chịu khó.  Nỗi nhớ tràn đầy của cháu đã được bộc lộ một cách trực tiếp và giản dị.

        =>Ba câu thơ mở đầu đã diễn tả cảm xúc đang dâng lên cùng với những kí ức, hồi tưởng của tác giả về bếp lửa, về bà, là sự khái quát tình cảm của người cháu với cuộc đời lam lũ của người bà.

  1. Những kỉ niệm ấu thơ bên bà:

    a. Cuộc sống có nhiều gian khổ, thiếu thốn nhọc nhằn:

                                   Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khó
                                    …
                                   Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay.

  • Dòng kí ức được bắt đầu với những tháng ngày gian khó, những ngyaf người cháu lên 4. 4 tuổi trong trí nhớ của người cháu sự sự “quen với mùi khói”, là những năm tháng “đói mòn đói mỏi”, là khi cha “đánh xe khô rạc ngựa gầy, là những làn khói “hun nhèm mắt”
  • Ấn tượng nhất đối với người cháu trong những năm đói khổ là mùi khói bếp của bà – mùi khói đã hun nhèm mắt cháu để đến bây giờ nghĩ lại “sống mũi còn cay”. Cái cay vì khói bếp của cậu bé bốn tuổi hay cái cay vì nỗi nhớ quê hương, nỗi nhà bà, nỗi nhớ mong kỉ niệm cũ? Quá khứ và hiện tại đồng hiện trên những dòng thơ. Điều này cho thấy, mùi khói bếp của bà có sức ám ảnh, làm lay động cả thế chất và tâm hồn cháu.

    b. Tình bà trong suốt tám năm bên bà:

                                                 Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm lửa

                                                 Tu hú kêu trên những cánh đồng xa

                                                 ….

                                                 Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?

  •  “Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm lửa” – câu thơ giản dị, không hoa mĩ những gợi cảm xúc lắng đọng. 8 năm ròng như muốn nhấn mạnh sự xa ngái, kéo dài của thời gian nhưng lại được kết hợp với cụm từ “cùng bà nhóm lửa”, cùm từ như kéo thời gian ngắn lại, cho người đọc một cảm giác như “thấm thoắt thoi đưa”. Kí ức như chảy trôi trong giọng thơ ấm áp của Bằng Viêt.
  • Kháng chiến bùng nổ, “Mẹ cùng cha công tác bận không về”, bà vừa là cha, lại vừa là mẹ: “bà bảo cháu nghe – Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học”. Chính bà là người đã nuôi dưỡng, dạy dỗ cháu nên người. Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế để nhắc nhở cháu về truyền thống gia đình, về những đau thương mất mát và cả những chiến công của dân tộc. Bà luôn bên cháu, dạy dỗ, chăm sóc cho cháu lớn lên.

         -> Tình yêu và kính trọng bà của tác giả được thể hiện thật chân thành, sâu sắc: “Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc”.

  •  Bà và bếp lửa là chỗ dựa tinh thần, là sự chăm chút, đùm bọc dành cho cháu. Bếp lửa của quê hương, bếp lửa của tình bà lại gợi thêm một kỉ niệm tuổi thơ – kỉ niệm gắn với tiếng chim tu hú trên đồng quê mỗi độ hè về:

                                    Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế!

                                    Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà

                                    Kêu chi hoài trênnhững cánh đồng xa? 

  • Tiếng chim tu hú bước vào thơ Bằng Việt như một chi tiết để gợi nhắc nhà thơ về những kỉ niệm ấu thơ được sống bên bà. Tiếng chim tu hú – âm thanh quen thuộc của làng quê Việt Nam mỗi độ hè về, báo hiệu mùa lúa chín vàng đồng, vải chín đỏ cây. Tiếng chim như giục giã, như khắc khoải một điều gì da diết khiến lòng người trỗi dậy những hòai niệm, nhớ mong.
  • “Cánh đồng xa” như mang 2 tầng ý nghĩa. Cánh đồng quê hương và cánh đồng thế giới. Phải chăng người cháu đang tự nhắc bản thân, đang khao khát được quay về bà, bên những tháng ngày ấu thơ đẹp đẽ?

          c. Đọng lại trong kỉ niệm của người cháu là:

                                                 Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi

                                                …

                                                 Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh

  • Chi tiết thơ đậm chất hiện thực, thành ngữ “cháy tàn cháy rụi” đem đến cảm nhận về hình ảnh làng quê hoang tàn trong khói lửa của chiến tranh. Trên cái nền của sự tàn phá hủy diệt ấy là sự cưu mang, đùm bọc của xóm làng đối với hai bà cháu, sự cưu mang ấy đơn giản chỉ là “dựng lại túp lều tranh”.

                                                   Mày có viết thư chớ kể này kể nọ

                                                  Cứ bảo nhà vẫn được bình yên

  • Người bà hiện lên với vẻ đẹp điển hình của người phụ nữ Việt Nam: chịu thương chịu khó, quật cường, gánh vác, hi sinh. Bà gồng mìn lo toan mọi việc để các con yên tâm công tác. Bà không chỉ là chỗ dựa cho đứa cháu thơ, là điểm tựa cho các con đang chiến đấu mà còn là hậu phương vững chắc cho cả tiền tuyến, góp phần không nhỏ vào cuộc kháng chiến chung của dân tộc. Tình cảm bà cháu hòa quyện trong tình yêu quê hương, Tổ quốc.

    d. Hình ảnh người bà và những kỷ niệm năm tháng tuổi thơ luôn gắn với hình ảnh bếp lửa

                                                 Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen

                                                Một ngọn lửa, lòng bà luôn ủ sẵn

                                                Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng…

  • Từ hình ảnh bếp lửa cụ thể ở câu trên, tác giả chuyển thành hình ảnh ngọn lửa trong lòng bà. Như thế, bếp lửa không chỉ được nhen lên bằng nhiên liệu củi rơm mà còn được nhen lên từ ngọn lửa của sức sống, lòng yêu thương “luôn ủ sẵn” trong lòng bà, của niềm tin vô cùng “dai dẳng”, bền bỉ và bất diệt. Ngọn lửa là những kỉ niệm ấm lòng, là niềm tin thiêng liêng kì diệu nâng bước cháu trên suốt chặng đường dài. Ngọn lửa là sức sống, lòng yêu thương, niềm tin mà bà truyền cho cháu.
  • Cùng với hình tượng “ngọn lửa”, các từ ngữ chỉ thời gian:“rồi sớm rồi chiều”, các động từ “nhen”, “ủ sẵn”, “chứa” đã khẳng định ý chí,bản lĩnh sống của bà, cũng là của người phụ nữ Việt Nam giữa thời chiến. Điệp ngữ – ẩn dụ “một ngọn lửa” cùng kết cấu song hành đã làm cho giọng thơ vang lên mạnh mẽ, đầy xúc động tự hào.

=> Từ hình ảnh bếp lửa cụ thể, bài thơ đã gợi đến ngọn lửa với ý nghĩa trừu tượng, khái quát. Bà không chỉ là người nhóm lửa, giữ lửa mà còn là người truyền lửa – ngọn lửa của sự sống, niềm tin cho các thế hệ nối tiếp.

  1. Suy ngẫm của người cháu về bà và hình ảnh bếp lửa

   Từ những hồi tưởng về kỉ niệm tuổi thơ sống bên bà, người cháu đã suy ngẫm về bà, về hình ảnh bếp lửa:

                                                  Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa

                                                  ….

                                                  Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ

  • Nếu từ đầu bài thơ, hình ảnh bà và bếp lửa song hành thì đến đây hoà vào làm một, nhòe lẫn, tỏa sáng bên nhau.
  • Cụm từ chỉ thời gian “đời bà”, “Mấy chục năm”, từ láy tượng hình “lận đận”, hình ảnh ẩn dụ “nắng mưa” -> diễn tả cảm nhận của nhà thơ về cuộc đời gian nan, vất vả và sự tần tảo, đức hi sinh, chịu thương,chịu khó của bà.  Tình thương yêu tác giả dành cho bà được thể hiện trong từng câu chữ. Tình cảm ấy giản dị, chân thành mà thật sâu nặng thiết tha.
  • Suốt cuộc đời, bà luôn chăm chút cho cháu cả về vật chất và tinh thần để cháu lớn lên. Bà là người nhóm lửa, cũng là người luôn giữ cho ngọn lửa luôn ấm nóng, tỏa sáng trong gia đình.
  • Điệp ngữ “nhóm” được nhắc lại bốn lần với những ý nghĩa phong phú, gợi nhiều liên tưởng. Từ hành động, bà đã nhóm dậy những gì thiêng liêng, cao quý nhất của con người
  • Trong tâm trí nhà thơ, bếp lửa và bà là những gì tuy thật bình dị, song ẩn giấu điều cao quý thiêng liêng. Cảm xúc dâng trào, tác giả đã phải thốt lên: “Ôi kì lạ và thiêng liêng – bếp lửa!”.

  -> Hình ảnh bà và hình ảnh bếp lửa sáng đẹp lung linh trong tâm hồn nhà thơ.

  1. Nỗi nhớ bà, nhớ quê hương khôn nguôi, da diết

                                        Giờ cháu đã đi xa, có ngọn khói trăm tàu,                                                                                   

                                           ….

                                       – Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa ?

Điệp từ “trăm” mở ra một thế giới rộng lớn với bao điều mới mẻ. Tuổi thơ lùi vào quá khứ, đứa cháu nhỏ năm xưa giờ đã lớn khôn, đã được chắp cánh bay cao, bay xa đến những chân trời cao rộng,  có “ khói trăm tàu”,”lửa trăm nhà”,”niềm vui trăm ngả”. Tuy thế, cháu vẫn khôn nguôi nhớ về bà và bếp lửa quê hương, nhớ về góc bếp, nơi nắng mưa hai bà cháu có nhau. Cháu sẽ không bao giờ quên và chẳng thể nào quên được vì đó chính là nguồn cội, là nơi mà tuổi thơ của cháu được nuôi dưỡng để lớn lên từ đó. Bà và quê hương yêu dấu là điểm tựa, là chỗ dựa tinh thần vững chắc cho cháu trên mỗi bước đường đời.

III. Tổng kết:

  1. Nội dung:

  • “Bếp lửa” của Bằng Việt là những hồi tưởng và suy ngẫm củangười cháu đã trưởng thành, nhớ lại những kỉ niệm đầy xúc động về người bà và tình bà cháu. Qua đó, bộc lộ những tình cảm sâu nặng đối với gia đình, quêhương, đất nước.
  •  Bài thơ thể hiện một triết lí sâu sắc: Những điều thân thiết nhất của tuổi thơ mỗi người đều có sức tỏa sáng, nâng bước con người trong suốt hành trình cuộc đời. Tình yêu đất nước bắt nguồn từ lòng yêu quý ông bà, cha mẹ, từ những gì gần gũi và bình dị nhất.
  1. Nghệ thuật:

  • Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa biểu cảm và miêu tả, tự sự và bình luận.
  • Thể thơ tám chữ kết hợp với 7 chữ,9 chữ phù hợp với việc diễn tả dòng cảm xúc và suy ngẫm về bà.
  • Giọng điệu tâm tình, thiết tha, tự nhiên, chân thành.
  • Sáng tạo hình ảnh bếp lửa – hình ảnh vừa thực vừa mang ý nghĩa biểu tượng.