Tóm tắt giá trị nội dung và nghệ thuật bài thơ Ánh trăng

Dưới đây, Hoc.vtc.vn sẽ tóm tắt giá trị nội dung và nghệ thuật bài thơ Ánh trăng của nhà thơ Nguyễn Duy với những điểm trọng tâm cần lưu ý.

Dưới đây, sẽ tóm tắt giá trị nội dung và nghệ thuật bài thơ Ánh trăng của nhà thơ Nguyễn Duy với những điểm trọng tâm cần lưu ý.

Ánh trăng của Nguyễn Duy là tiếng lòng ăn năn, hối hận của tác giả về những tháng ngày lãng quên quá khứ. Đồng thời, bài thơ cũng là sự thức tình của nhà thơ về những giá trị xưa cũ, những kỉ niệm ân tình, thủy chung. Qua đó, tác giả nhắc nhở con người về truyền thống Uống nước nhớ nguồn của dân tộc. Cùng tìm hiểu giá trị nội dung và nghệ thuật bài thơ Ánh trăng.

tom-tat-gia-tri-noi-dung-va-nghe-thuat-bai-tho-anh-trangTóm tắt giá trị nội dung và nghệ thuật bài thơ Ánh trăng

I. Tìm hiểu chung:

  1. Tác giả:

– Nguyễn Duy (1948), tên đầy đủ là Nguyễn Duy Nhuệ, quê ở thành phố Thanh Hóa.

– 1966, ông gia nhập quân đội, vào binh chủng Thông tin,tham gia chiến đấu ở nhiều chiến trường.

– Nguyễn Duy thuộc thế hệ các nhà thơ quân đội trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc và là một trong những gương mặt tiêu biểu.

– Thơ Nguyễn Duy gần gũi với văn hóa dân gian, sâu sắc mà tài hoa, giản dị đi sâu vào cái nghĩa, cái tình muôn đời của con người Việt.

– Năm 2007, ông được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật.

– Tác phẩm tiêu biểu: Cát trắng (1973), Mẹ và em ( 1987), Đường xa (1990), Về (1994)…

  1. Tác phẩm:
    a. Hoàn cảnh sáng tác:

– Bài thơ “Ánh trăng” được sáng tác vào năm 1978, tại thành phố Hồ Chí Minh – nơi những người từ trận đánh trở về và để lại sau lưng cuộc chiến gian khổ, nghĩa tình,  cũng là đô thị phồn hoa, hiện đại.

– In trong tập thơ “Ánh trăng” của Nguyễn Duy –tập thơ đạt giải A của Hội nhà Văn Việt Nam năm 1984.

         b. Bố cục: 3 phần:

– Hai khổ đầu: Vầng trăng trong quá khứ.

– Hai khổ tiếp: Vầng trăng trong hiện tại.

– Hai khổ cuối: Cảm xúc và suy ngẫm của tác giả trước vầng trăng.

II .  Đọc – hiểu văn bản:

  1. Vầng trăng trong quá khứ:

– Hồi nhỏ sống với đồng, với sông, với bể.

-> Điệp từ “với” nhấn mạnh mối quan hệ gần gũi, thân quen của con người với thiên nhiên, đất trời.

– “Hồi chiến tranh ở rừng –  vầng trăng thành tri kỉ”: những năm tháng gian khổ ác liệt, những năm tháng sống chung với lửa đạn chiến tranh, “vầng trăng thành tri kỉ”. Ở đây, nhà thơ sử dụng nghệ thuật nhân hóa để nói về ánh trăng, trăng như người tri âm, tri kỉ, như người bạn đồng hành, tâm giao trong mọi hành trình.

– “Trần trụi với thiên nhiên/ hồn nhiên như cây cỏ” -> hai tính từ “trần trụi” và “hồn nhiên” diễn tả vẻ bình dị, mộc mạc, trong sáng của vầng trăng hay cũng chính là vẻ đẹp tâm hồn của con người lúc bấy giờ. Phép so sánh được dùng với “thiên nhiên” và “cây cỏ” càng nhấn mạnh điều đó.

– “không…quên…vầng trăng tình nghĩa” -> thể hiện tình cảm thắm thiết với vầng trăng.

=>Vầng trăng đã gắn bó thân thiết với con người từ lúc nhỏ đến lúc trưởng thành, từ hạnh phúc và gian khổ, khó khăn, không những trở thành người bạn tri kỉ, mà còn trở thành “vầng trăng tình nghĩa” biểu tượng cho quá khứ nghĩa tình sâu nặng và làm nên giá trị nội dung và nghệ thuật bài thơ Ánh trăng.

  1. Vầng trăng trong hiện tại:

– Đất nước hòa bình, hoàn cảnh sốngcủa con người thay đổi: con người được sống sung túc trong “ánh điện cửa gương” – cuộc sống đầy đủ, tiện nghi, khép kín trong những căn phòng hiện đại, xa rời thiên nhiên.

-“Vầng trăng đi qua ngõ – như người dưng qua đường”:

+ Từ người bạn tri kỉ, tâm giao, từ người bạn gắn bó trong cả hạnh phúc lẫn gian lao. Thế mà, giờ đây, “vầng trăng đi qua ngõ/ như người dưng qua đường”. Vầng trăng trong tâm trí của người lính năm xưa đã trở thành dĩ vãng, dần đi vào quên lãng.

-> Như vậy, khi thay đổi hoàn cảnh sống, con người dễ dàng quên đi những điều từng gắn bó, quên đi quá khứ nghĩa tình. Nói chuyện quên nhớ ấy, nhà thơ như muốn phản ánh một sự thực trong xã hội thời hiện đại.

– Con người gặp lại vầng trăng trong một tình huống đầy bất ngờ:

+ Tình huống: mất điện, phòng tối om.

+ “Vội bật tung”: vội vàng,nhanh chóng, khẩn trương -> bắt gặp vầng trăng

-> Chính khoảnh khắc bất ngờ ấy đã tạo nên bước ngoặt trong cảm xúc của nhà thơ -> Sự xuất hiện bất ngờ của vầng trăng khiến nhà thơ ngỡ ngàng, bối rối, gợi cho nhà thơ bao kỉ niệm nghĩa tình và làm sâu sắc thêm giá trị nội dung và nghệ thuật bài thơ Ánh trăng.

  1. Cảm xúc và suy ngẫm của tác giả trước vầng trăng

– Từ “mặt” được dùng với nghĩa gốc và nghĩa chuyển – mặt trăng, mặt người – trăng và người cùng đối diện đàm tâm.

– Với tư thế “ngửa mặt lên nhìn mặt” người đọc cảm nhận sự lặng im, thành tâm và trong phút chốc cảm xúc nghẹn ngào khi gặp lại vầng trăng: “có cái gì rưng rưng”. Rưng rưng của những niềm thương nỗi nhớ, của những lãng quên lạnh nhạt với người bạn cố tri; của một lương tri đang thức tỉnh sau những ngày bội bạc với quá khứ. Những áy náy, xót xa đã làm nên cái “rưng rưng”, cái thổn thức trong sâu thẳm trái tim người lính và khắc sâu Tóm tắt giá trị nội dung và nghệ thuật bài thơ Ánh trăng.

– Và trong phút giây nhân vật trữ tình nhìn thẳng vào trăng- biểu tượng đẹp đẽ của một thời xa xôi, nhìn thẳng vào tâm hồn của mình, như sự tự vấn lương tâm, sự thức tỉnh và nhớ về những kỉ niệm xưa cũ. Kí ức về quãng đời ấu thơ trong sáng, về lúc chiến tranh máu lửa, về cái ngày xưa hồn hậu hiện lên rõ dần theo dòng cảm nhận trào dâng, “như là đồng là bể, như là sông là rừng”. Đồng, bể, sông, rừng, những hình ảnh gắn bó nơi khoảng trời kỉ niệm.

– Hình ảnh “trăng cứ tròn vành vạnh”: diễn tả nét đẹp ân tình, thủy chung,trước sau như một của quá khư, của thiên nhiên, của những kỉ niệm cũ.

– Hình ảnh “ánh trăng im phăng phắc” mang ý nghĩa nghiêm khắc nhắc nhở, là sự trách móc trong lặng im. Cái im phăng phắc ấy của vầng trăng đã đánh thức con người, làm xáo động tâm hồn người lính năm xưa. Con người “giật mình” trước ánh trăng như chính sự bừng tỉnh của nhân cách, là sự trở về với lương tâm trong sạch, tốt đẹp. Đó là lời ân hận, ăn năn day dứt, làm đẹp con người và tạo nên giá trị nội dung và nghệ thuật bài thơ Ánh trăng.

III . Tổng kết:

  1. Nội dung:

– Bài thơ là một lời tự nhắc nhở của tác giả về những năm tháng gian lao của cuộc đời người lính gắn bó với thiên nhiên, đất nước bình dị, hiền hậu.

– Gợi nhắc, củng cố ở người đọc thái độ sống “uống nước nhớ nguồn”, ân nghĩa thủy chung với quá khứ.

  1. Nghệ thuật:

– Thể thơ 5 chữ, phương thức biểu đạt tự sự kết hợp với trữ tình.

– Giọng thơ mang tính tự bạch, chân thành sâu sắc.

– Hình ảnh vầng trăng – “ánh trăng” mang nhiều tầng ý nghĩa.

– Bút pháp so sánh, điệp từ mang lại nhiều giá trị.