lịch sử Việt Nam (t)

28/09/2014| 0 Bình luận

Thống nhất đất nước[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm: Chiến tranh TâySơn–Chúa Nguyễn (1789-1802)

Đại Nam nhất thống toànđồnăm 1834

Từ giữa thế kỷ 18, cáccuộc chiến liên tục giữa Đàng Trong với vương quốc Khmer, Ayutthaya cũng nhưcác cuộc tranh chấp ở Đàng Ngoài làm cho đời sống người dân thêm cùng quẫn.Nhiều cuộc khởi nghĩa của nông dân đã nổ ra, song phần lớn chịu thất bại. Tớiphong trào nổi dậy của Tây Sơn bùng nổ năm 1771 tại Quy Nhơn (Bình Định) đã phát triển rộng lớn đánhbại hai chế độ cai trị của hai họ Nguyễn, Trịnh, chấm dứt việc chia đôi đấtnước, cũng như bãi bỏ nhà Hậu Lê vốn chỉ còn trên danh nghĩa. Nhà Tây Sơn đãđánh bại 5 vạn quân Xiêm La (năm 1784)tại miền Nam và 29 vạn quân Mãn Thanh (năm 1789)xâm lược tại miền Bắc. Nguyễn Huệ chính thức trở thành vua của Đại Việt lấyniên hiệu là Quang Trung, thống nhất hầu hết lãnh thổ từ miền Bắc vào tới Gia Định, tuy nhiên sau cái chết của ông năm 1792, nội bộ lụcđục khiến chính quyền Tây Sơn càng ngày càng suy yếu.

Một người thuộc dòngdõi chúa Nguyễn ở miền Nam là Nguyễn Phúc Ánh, với sự hậu thuẫn và cố vấn của một số người Pháp, đã đánh bại được nhà Tây Sơn vào năm 1802.Ông lên làm vua, lấy niên hiệu là Gia Long và trở thành vị vua đầu tiên cai trịmột đất nước thống nhất với hai đồng bằng phì nhiêu nối với nhau bằng một dảiduyên hải, năm 1804 ông cho đổi tên nước từ Đại Việt thành Việt Nam.

Gia Long (1802-1820)đóng đô ở Huế, ông cho xây dựng kinh đô Huế tương tự như Tử Cấm Thành  Bắc Kinh (Trung Quốc). Gia Long và con trai Minh Mạng (cai trị 1820-1841)đã cố gắng xây dựng Việt Nam theo khái niệm và phương pháp hành chính TrungHoa. Từ thập niên 1830, giới tríthức Việt Nam (đại diện tiêu biểu là Nguyễn Trường Tộ) đã đặtra yêu cầu học hỏi phương Tây để phát triển công nghiệp - thương mại, nhưng họchỉ là thiểu số. Đáp lại, vua Minh Mạng và những người kế tụcThiệu Trị (1841-1847) và Tự Đức (1847-1883) chọn chính sách đã lỗi thờilà coi trọng phát triển nông nghiệp (dĩ nông vi bản) và ngăn cản Công giáo, tôn giáo từphương Tây.

Những nhà truyền giáo người Pháp đã có mặt ở Việt Namtừ giữa thế kỷ 17. Họ cũng hỗ trợ nhân lực và vật lực cho nhà Nguyễntrong cuộc chiến với nhà Tây Sơn dẫn đến chiến thắng của vua Gia Long. Đến giữa thế kỷ 19, có khoảng 450.000 người cải đạo sang Công giáo [17]. Chính quyền thực sự lo ngại sự hình thành của một tôn giáocó tổ chức nên đã sát hại những người theo đạo Công giáo và san bằng nhiều xómđạo.

Thi Pháp thuc[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Pháp thuộc

Việt Nambị chia làm ba kỳ thuộcLiên bang Đông Dương

Ngày 31 tháng 8 năm 1858,Hải quân Pháp đổ bộ tấn công vào cảng Đà Nẵng và sau đó rút vào xâm chiếm Sài Gòn.Tháng 6 năm 1862, Vua Tự Đức ký hiệp ước nhượng ba tỉnh miền Đông cho Pháp. Năm 1867,Pháp chiếm nốt ba tỉnh miền Tây kế tiếp để tạo thànhmột lãnh thổ thuộc địa Cochinchine (Nam kỳ). Sau khi củng cố vị trí vữngchắc ở Nam Kỳ, từ năm 1873 đến năm1886,Pháp xâm chiếm nốt những phần còn lại của Việt Nam qua những cuộc chiến phứctạp ở Bắc Kỳ. Miền Bắc khi đó rất hỗn độn do những mối bất hòa giữangười Việt và người Hoa lưu vong. Chính quyền Việt Nam không thể kiểm soát nổimối bất hòa này. Cả Trung Hoa và Pháp đều coi khu vực này thuộc tầm ảnh hưởngcủa mình và gửi quân đến đó, nhưng cuối cùng thì người Pháp đã chiến thắng.

Pháp tuyên bố là họ sẽ "bảohộ" Bắc kỳ (Tonkin) và Trung kỳ (Annam), nơi họ tiếp tục duy trì các vua nhà Nguyễn cho đến Bảo Đại (làm vua từ 1926 đến 1945) cùng bộ máyquan lại. Nhà Nguyễn tuy tiếp tục tồn tại ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ nhưng chỉ cònquyền lực hạn chế, mọi vấn đề lớn phải được Toàn quyền Đông Dương của Pháp thông qua.Vào năm 1885, các quan lại Việt Nam tổ chức phongtrào kháng chiến Cần Vương chống Pháp nhưng thấtbại. Các vua Nguyễn là Hàm Nghi, Duy Tân  Thành Thái có ý phản kháng đều bị Pháp truất ngôivà đưa đi đày.

Vào năm 1887,hoàn tất quá trình xâm lược Việt Nam, người Pháp đã tổ chức ra một bộ máy caitrị khá hoàn chỉnh từ trung ương cho đến địa phương. Ở trung ương là Phủ toàn quyền Đông Dương (ban đầu thủ phủ ở SàiGòn, năm 1902 đặt ở Hà Nội). Đứng đầu Phủ toàn quyền gọi là Toàn quyền Đông Dương,là người có quyền hành cao nhất trong thể chế chính trị Pháp trên toàn cõi Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ  Cao Miên. Đứng đầu ở 3 kỳ là: Thống đốc Nam kỳ, Khâm sứ Trung kỳ  Thống sứ Bắc kỳ, cả ba đềunằm dưới quyền giám sát và điều khiển tối cao của viên Toàn quyền Đông Pháp,trực thuộc bộ Thuộc địa. Đến năm 1893 quyền kiểm soát củaToàn quyền Đông Pháp được mở rộng thêm, bao gồm cả Ai Lao.

Sau thất bại của phong trào Cần vương cuối thế kỷ 19, ngườiPháp đã cũng cố hoàn toàn việc tổ chức cai trị tại Việt Nam. Cuộc cải cáchtrong giáo dục trong thập niên 1910 đã xóa bỏ hoàn toàn nền nho học với chữ Hán cả nghìn năm trong chế độ phong kiếnViệt Nam để thay thế bằng phong trào tân học theo chữ quốc ngữđã tạo ra một tầng lớp trí thức mới, đó là nhữngngười xuất thân từ truyền thống nho giáo nhưng được tiếp cận với văn hóa phương Tây. Đại diện tiêu biểu cho giới này là Phan Chu Trinh  Phan Bội Châu đã mở đầu cho phong trào Duy Tân  phong trào Đông Du vận động tăng cườngdân trí, dân chủ, nhân quyền và cải cách xã hội cho người Việt trước tầng lớpngười Pháp cai trị. Tuy nhiên sự phát triển các phong trào này sau đó bị chínhquyền thực dân dẹp bỏ vì nhận thấy nguy cơ đối với chế độ thuộc địa của họ.

Cuối thập niên 1920, những người Việtcấp tiến dưới ảnh hưởng của chủ nghĩa Tam dân đã thành lập Việt Nam Quốc dân Đảng.Tuy nhiên, đến năm 1930, sau khi cuộc khởi nghĩa Yên Bái thất bại, Việt NamQuốc dân Đảng bị suy yếu nghiêm trọng. Cùng năm đó, một số thanh niên Việt Namtheo chủ nghĩa Marx-Lenin thành lậpĐảng Cộng sản ĐôngDương, nhưng cũng mau chóng trở thành mục tiêu tiêu diệt của Phápmặc dù tổ chức của họ thân thiện với Mặt trận Bìnhdân trong chính quyền Pháp.

Nhật Bản tấn công Đông Dương vào năm 1940 và nhanh chóng thỏathuận được với chính quyền Vichy ở Pháp để cho Nhậttoàn quyền cai trị Đông Dương. Chính quyền thực dân Pháp chỉ tồn tại đến tháng 3 năm 1945 khi Nhật tấn công toànbộ Đông Dương. Ngay sau đó, Nhật thiết lập một chính quyền thân Nhật với quốcvương Bảo Đại và thủ tướng Trần Trọng Kim, đặt quốchiệu mới đế quốc Việt Nam và quốc kỳ là cờ quẻ ly.

Việt Minh (viết tắt của Việt Nam Độc Lập ĐồngMinh Hội) thành lập năm 1941 với vai trò một mặttrận của Đảng Cộng sản Đông Dương được điều hành từ Pắc Bó (ở biên giới Việt-Trung) bởi Hồ Chí Minh khi ông trở về nước lần đầu tiên kể từnăm 1911 (năm ông rời Việt Nam), mặc dù ông cóliên hệ với những người Cộng sản trong nước trong các thập niên 1920  1930.

Đầu năm 1945,Việt Nam rơi vào một tình trạng hỗn loạn. Chiến tranh đã làm kiệt quệ nền kinhtế, người Nhật chiếm lấy lúa gạo và các sản phẩm khác, bắt dân phá lúa trồngđay để phục vụ chiến tranh,cộng thêm thiên tai, nạn đói (Nạn đói Ất Dậu)đã xảy ra tại Bắc kỳ  Trung kỳ.Người ta ước tính rằng đã có khoảng hai triệu người chết vì nạn đói này [18].

Giai đon t năm 1945 đến năm 1986
lam
lịch sử Việt Nam (t) lịch sử Việt Nam (t)
9/10 1320 bài đánh giá