Lịch sử Việt Nam(tiếp)

28/09/2014| 0 Bình luận

Thuộc Đường[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Bắc thuộc lần 3

Kế tiếp nhà Tùy, nhà Đường đô hộ Việt Nam gần 300năm. Trung Quốc đến thời Đường đạt tới cực thịnh, bành trướng ra 4 phía, phíabắc lập ra An Bắc đô hộ phủ, phía đông đánh nước Cao Ly lập ra An Đông đô hộ phủ, phía tây lậpra An Tây đô hộ phủ và phía nam lập ra An Nam đô hộ phủ, tức là lãnh thổ nướcVạn Xuân cũ.

Trong thời kỳ thuộcnhà Đường, đã nổ ra các cuộc khởi nghĩa chống bắc thuộc của người Việt như khởinghĩa Lý Tự Tiên  Đinh Kiến, khởi nghĩa Mai Hắc Đế, khởi nghĩa Phùng Hưng và khởi nghĩa Dương Thanh từ cuối thế kỷ 7 đến thế kỷ 9.

Từ sau loạn An Sử (756-763), nhà Đườngsuy yếu và bị mất thực quyền kiểm soát với nhiều địa phương do các phiên trấncát cứ, không kiểm soát nổi phía nam. An Nam đô hộ phủ bị các nước láng giềng Nam Chiếu, Chăm Pa, Sailendra vào cướp phá và giết hại người bản địarất nhiều, riêng Nam Chiếu đã giết và bắt đến 15 vạn người, quân Đường bị đánhbại nhiều lần. Tới năm 866, nhà Đường kiểm soát trở lại và đổi gọi là Tĩnh Hảiquân.

Cuối thế kỷ 9 nhàĐường bị suy yếu trầm trọng sau cuộc nổi loạn của Hoàng Sào và các chiến tranh quân phiệt tại TrungQuốc. Tại Việt Nam, năm 905, một hào trưởng địa phương người Việt là Khúc Thừa Dụ đã chiếm giữ thủ phủĐại La, bắt đầu thời kỳ tự chủ của người Việt.

Ảnh hưởng đến văn hóa Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Các triều đại này cốgắng đồng hóa dân tộc Việt Nam theo tộc Hán, mặc dù người Việt chịu nhiều ảnhhưởng về tổ chức thể chế chính trị, xã hội, văn hóa của Trung Quốc, nhưng ngườiViệt Nam vẫn giữ được nhiều bản chất nền tảng văn hóa dân tộc vốn có của mìnhsau một nghìn năm đô hộ.[12]

Người Việt cũng chịuảnh hưởng của Phật giáo Đại thừa đang phát triển ở Đông Á. Mặc dù lúc đó Đông Nam Á đã chịu ảnh hưởng của Ấn Độ giáo  Phật giáo Nguyên thủy. Phật giáo Đại thừa được hòa trộn với Nho giáo, Lão giáo và thêm vào đó là các tín ngưỡng dân gian địa phương[13].

Thi phong kiến đc lp[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm: Lãnh thổ ViệtNam qua từng thời kỳ

Xây dựng đất nước[sửa | sửa mã nguồn]

Chùa Một Cột xây dựng ở thế kỷ 11

Năm 905 Khúc Thừa Dụ đã xây dựng chínhquyền tự chủ của người Việt nhân khi nhà Đường suy yếu, đặt nền móng cho ViệtNam giành độc lập. Năm 939 Ngô Quyền xưng vương sau trận chiến lịch sử trên sông Bạch Đằng trước đoàn quân Nam Hán, đến năm 968 Đinh Bộ Lĩnh xưng đế và đặt tênnước là Đại Cồ Việt. Đại Cồ Việttrải qua các triều đại nhà Đinh, nhà Tiền Lê và thời kỳ đầu của nhà Lý. Năm 1054 vua Lý Thánh Tông đổi tên thành Đại Việt, Đại Việt trảiqua nhiều chế độ phong kiến: nhà Lý (1009-1225), nhà Trần (1226-1400), nhà Hồ (1400-1407), nhà Lê sơ (1428-1527), Nhà Mạc (1527-1592), Nhà Lê trung hưng(1533-1789), nhà Tây Sơn (1778-1802).

Trong thời kỳ này cácvương triều phương bắc ở Trung Hoa, Mông Cổ mang quân sang xâm lược, nhưng đềubị Việt Nam đẩy lùi: Lê Hoàn  Lý Thường Kiệt đẩy lui hai lần quân nhà Tống (năm 981 và 1076), nhà Trần đánh bại quân Mông Cổ năm 1258 và kế tiếp là nhà Nguyên vào năm 1285 và 1288. Đầu thế kỷ 15 nhà Minh xâm chiếm được Đại Việt và cai trịtrong 20 năm, nhưng cũng bị Lê Lợi nổi lên đánh đuổi năm1428 và thành lập nhà Hậu Lê, Năm 1789 nhà Thanh sang xâm lược cũng bịNguyễn Huệ đánh bại. Tuy nhiên,từ cuối thế kỷ 18 trở đi phong kiến Việt Nam đã bắt đầu suy yếu.

Từ thế kỷ 10 tới thế kỷ 14, các triều đại Đại Việtxây dựng nhà nước trên cơ sở Phật giáo cùng với những ảnh hưởng Nho giáo từ Trung Quốc. Tới cuối thế kỷ 14, ảnhhưởng của Phật giáo dần thu hẹp và ảnh hưởng của Nho giáo tăng lên, sự pháttriển nhà nước Nho giáo theo mô hình kiểu Trung Hoa, sang đến thế kỷ 15 thì Đại Việt có một cơ cấu chính quyềntương tự nước láng giềng Trung Hoa, cơ cấu luật pháp, hành chính, văn chương  nghệ thuật đều theo kiểu TrungHoa.

Cùng với việc thu nhậnmô hình chính trị, tổ chức xã hội của Trung Hoa. Các triều đại Việt Nam từ thếkỷ 10 trở đi từng bước mở rộng vùng ảnh hưởng ra ngoài khu vực đồng bằng sông Hồng. Từtriều Lý, thông qua các cuộc hôn nhân, quân sự và tấn phong thủ lĩnh các bộ tộcmiền núi, các vương triều Lý, Trần, Lê đã lần lượt sát nhập và đưa các sắc tộckhác ở vùng Tây bắc, Đông bắc vào quốc gia Đại Việt.Cùng với người Việt, các bộ tộc miền núi đã cùng chung sức với người Việt trongcác công cuộc chống ngoại xâm và xây dựng đất nước.

Việt Nam trong thờiphong kiến phát triển vẫn dựa vào nông nghiệp mà chủ yếu là trồng lúa nước để cungcấp lương thực, từng triều đại đã lần lượt cho đắp đê ngăn lũ lụt, đào kênh dẫnnước cũng như giao thông đi lại, khai hoang các vùng đất đồng bằng ven biển đểtăng diện tích trồng trọt. Các hoạt động thương mại, ngoại thương cũng đã đượchình thành. Ngoài hai quốc gia láng giềng Trung Quốc và Chăm Pa, vào thời nhàLý, nhà Trần đã có buôn bán thêm với các vương quốc trong vùng Đông Nam Á tại cảng Vân Đồn (Quảng Ninh), thời Hậu Lê có buôn bánthêm với Châu Âu, Nhật Bản tại các trung tâm như Thăng Long  Hội An.

Đàng Ngoài-Đàng Trong[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Trịnh-Nguyễn phân tranh

lam
Lịch sử Việt Nam(tiếp) Lịch sử Việt Nam(tiếp)
7/10 1320 bài đánh giá