Những đứa con nhẫn tâm

Dưới tòa nhà tôi ở có một vườn hoa, ngày nào tôi cũng thấy một bà lão ngồi ở đấy. Nghe nói bà lão đã ngoài 80. Bà lão nét mặt ảm đạm, người gầy như que củi, đầu tóc rối tung, ánh mắt đờ đẫn ngồi trên chiếc ghế đá. Những người đi qua ngửi thấy mùi hôi hám từ người bà lão bốc ra đều ngoảnh mặt đi, lấy khăn bịt mũi, có người còn nói vẻ khinh rẻ: “Bà lão này ngồi đây làm gì. Mùi hôi quá, đi chỗ khác mà ngồi”.

Dưới tòa nhà tôi ở có một vườn hoa, ngày nào tôi cũng thấy một bà lão ngồi ở đấy. Nghe nói bà lão đã ngoài 80. Bà lão nét mặt ảm đạm, người gầy như que củi, đầu tóc rối tung, ánh mắt đờ đẫn ngồi trên chiếc ghế đá. Những người đi qua ngửi thấy mùi hôi hám từ người bà lão bốc ra đều ngoảnh mặt đi, lấy khăn bịt mũi, có người còn nói vẻ khinh rẻ: “Bà lão này ngồi đây làm gì. Mùi hôi quá, đi chỗ khác mà ngồi”.

Nghe người ta nói về mình, những giọt nước mắt lại rơi lã chã xuống đôi gò má khô héo của bà lão.

Tôi nhìn bà lão mà không thể cầm lòng được. Tôi nấu một bát mì thịt mang xuống cho bà lão. Bà lão nhìn tôi ứa nước mắt. Bà cảm kích đưa hai cánh tay gầy guộc run run bưng lấy bát mì từ từ ăn. Ăn chừng được một nửa, bỗng nước mắt bà lão chảy ròng ròng.

Tôi vội hỏi bà lão có phải là mì quá nóng hay không? Lúc này, tinh thần bà lão có vẻ đã ổn định, đôi mắt nhìn ra phía xa xa, giọng khản đặc: “Tôi có một con trai và một con gái. Khi còn nhỏ chúng nó học rất giỏi. Đứa con trai sau khi học xong đại học ở lại thành phố làm việc, từ đó không trở về nữa”.

Bà lão sụt sùi kể tiếp: “Còn đứa con gái thì lấy chồng ở tỉnh ngoài rồi cũng cắt đứt quan hệ. Bây giờ chỉ còn lại mình tôi. Tôi nhớ các con, tôi lo cho các con tôi, không biết chúng nó sống có được hạnh phúc không cho nên tôi ngồi ở đây đợi chúng nó trở về”. Nói đến đây, bà lão lấy tay gạt nước mắt.

Tôi nghe bà lão nói mà thấy đau xót trong lòng. Tôi an ủi bà lão: “Họ nhất định được sống hạnh phúc và nhất định sẽ trở về thăm bà”.

Nghe tôi nói, bà lão chớp chớp mắt, lộ ra một chút hy vọng.

Hôm sau, tôi không nhìn thấy bà lão ngồi ở dưới vườn hoa nữa. Qua một tháng sau vẫn không thấy bóng dáng bà lão đâu. Hỏi mọi người tôi mới biết, vì bà lão một thời gian dài đi lang thang bị lạnh, lại ăn uống khổ sở thiếu thốn nên mắc bệnh ung thư phổi.

Tôi vội đến bệnh viện, thấy bà lão nằm trên giường nhưng mồm không ngừng nói: “Tôi không muốn ở đây, cho tôi về, các con tôi đang đợi tôi!”.

Tôi nghe mà nước mắt rưng rưng. Đây là một bà lão bình thường nhưng là một người mẹ vĩ đại, khi bị bệnh vẫn nhớ đến các con của mình, mà là những đứa con đã vứt bỏ bà bao nhiêu năm nay. Tôi hỏi bác sĩ về bệnh tình của bà lão. Bác sĩ nói làm tôi giật thót người: Bà lão không sống được quá một tuần nữa!

Chỉ có một tuần! Tôi quyết định phải đi tìm bằng được các con của bà lão.

Tôi mất 5 ngày tất bật đi khắp nơi, cuối cùng tôi cũng tìm được cô con gái của bà lão. Điều làm tôi không thể ngờ là từ lâu cô ta đã quên đi người mẹ đã sinh ra và nuôi dưỡng cô ta mấy chục năm trời, đã quên đi cả nơi chôn rau cắt rốn của mình. Nghe tôi nói tình hình bà lão, cô ta còn đặt câu hỏi, nghi là tôi lừa cô ta. Tôi nghĩ mà thấy lạ: Trên thế giới này sao vẫn có những người con gái nhẫn tâm với cả người đã sinh ra mình. Thật là khó hiểu, thật sự không thể hiểu được?

Cuối cùng, vào buổi sáng ngày thứ sáu, bà lão bỗng gào lên: “Các con, hãy đợi mẹ! Cho tôi về đi, các con tôi đang đợi tôi!”. Tiếng gào ngày một nhỏ và ngắt quãng, rồi tắt hẳn. Bà lão ôm theo một mối hận, trút hơi thở cuối cùng.

Không thể ngờ được, đến giây phút cuối cùng của cuộc đời, bà lão vẫn nhớ đến những đứa con bội bạc của mình. Nhưng có ai ngờ rằng, trong đám tang của bà lão, không có ai trong các con của bà lão có mặt. Đối với những loại con cái này, tôi không có gì để mà nói nữa. Còn đối với những bà mẹ như bà lão, tôi có thể nói rằng, họ là những người mẹ bình thường nhưng vĩ đại!