Hướng dẫn viết bài tập làm văn số 7 - Đề 3: Trình bày suy nghĩ về khổ thơ kết thúc bài “Ánh trăng” của Nguyễn Duy.

I.Mở bài:

- Nguyễn Duy thuộc thế hệ các nhà thơ – chiến sĩ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ. Nguyễn Duy được nhiều người biết đến với những bài thơ nổi tiếng “Tre Việt Nam”, “Hơi ấm ổ rơm”, “Đò Lèn”…

- Bài thơ “Ánh trăng” rút trong tập thơ cùng tên, được viết vào năm 1978, sau ngày giải phóng miền Nam ba năm, là một trong những bài thơ được nhiều người ưa thích bởi tình cảm chân thành, sâu sắc, hình ảnh thơ đẹp, gợi nhiều liên tưởng.

- Khổ cuối bài thơ “Ánh trăng” của Nguyễn Duy đã để lại trong lòng người đọc ấn tượng sâu sắc.

II. Thân bài:

1. Khái quát về nội dung, nghệ thuật của bài thơ:

- Diễn tả những suy ngẫm sâu sắc về thái độ của con người đối với quá khứ nghĩa tình.

- Mang nét đặc trưng riêng: có sức khái quát lớn, hàm súc,giàu chất triết lí:

2. Trình bày những suy nghĩ, đánh giá về nội dung, nghệ thuật của khổ thơ:

Nội dung thể hiện tập trung nhất, sâu sắc nhất ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh vầng trăng, chiều sâu tư tưởng mang tính triết lí của tác phẩm ( đó là chuyện đạo lí, lẽ sống ở đời: “Thủy chung ân nghĩa”, “Uống nước nhớ nguồn”…)

a. Suy nghĩ về hình ảnh vầng trăng ( mang nhiều tầng ý nghĩa):

- Là hình ảnh của thiên nhiên hồn nhiên, tươi mát, đẹp rạng ngời.

- Là người bạn tri kỉ thưở ấu thơ, hồi chiến tranh ở rừng.

- Là biểu tượng của quá khứ nghĩa tình tròn đầy, bất diệt.

- Là vẻ đẹp bình dị và vĩnh hằng của đời sống.

- Là biểu tượng của nhân dân, đất nước bình dị, hiền hậu.

( Một vẻ đẹp đáng yêu, đáng ngưỡng mộ, đáng kính, gợi nhiều xúc cảm, suy tư. “Vành vạnh” gợi hình, gợi cảm, gợi sự liên tưởng. Hình ảnh thơ tả thực mà hàm súc, giàu ý nghĩa biểu tượng khiến ta rưng rưng xúc động).

- “Ánh trăng im phăng phắc” gợi liên tưởng đến thái độ độ lượng, bao dung nhưng cũng rất nghiêm khắc… ( khiến nhân vật trữ tình và người đọc phải tự vấn mình, phải trăn trở, nghĩ suy…)

- “Kể chi người vô tình” ( trăng trở nên có tâm trạng, suy tư sâu sắc vì thế mà đẹp hơn – cái đẹp của chiều sâu tâm hồn, của lòng vị tha…)

- Phép nhân hóa trong khổ thơ tự nhiên, phù hợp với nội dung ( tạo được cảm nhận của người đọc về sự gần gũi, gắn bó giữa trăng với người,giữa thiên nhiên với nhân loại…)

- “Cứ tròn” biểu hiện của sự hiện hữu, nghĩa tình, thủy chung muôn đời tròn đầy, bất diệt của vầng trăng ( trong quá khứ, trong hiện tại, trong tương lai).

b. Suy nghĩ về cái “giật mình” của nhân vật trữ tình:

- Câu kết có giá trị nâng bổng bài thơ lên tâm cao mới (biết “giật mình” nhận ra cái sai, dám đối diện với nó, và trăn trở, ăn năn, hối hận… là có nhân cách tốt đáng được trân trọng).

- Cái “giật mình” đã khẳng định truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta ( trọng ân nghĩa thủy chung, uống nước nhớ nguồn…).

- Cái “giật mình” thấm chất nhân văn sâu sắc.

c. Cảm nhận về ngôn ngữ, giọng điệu, cách gieo vần, ngắt nhịp của khổ thơ:

- Lời thơ giản dị, chân tình, giàu cảm xúc, giàu ý nghĩa, tự sự mà chan chứa chất thơ.

- Giọng thơ trầm lắng, thể thơ 5 chữ liền mạch, chậm rãi,nhịp 1/2/2; 2/3 như nhấn từng tiếng thủ thỉ, trầm ấm, rõ ràng, rành mạch.

3. Ý nghĩa của khổ thơ cuối và thông điệp của tác giả:

- Là tiếng lòng, sự tự vấn, tự ngẫm của riêng nhà thơ nhưng có ý nghĩa phổ biến rộng lớn, có sức khái quát lớn.

- Tượng trưng cho vẻ đẹp bền vững của tình bạn mang ý nghĩa triết lí về sự thủy chung.

III.Kết bài:

- “Ánh trăng” không chỉ là tiếng lòng của một người mà là tiếng lòng của muôn người.

- Khổ thơ cuối cùng khép lại nhưng dư âm vẫn ngân lên, tạo sức ám ảnh thật lớn với người đọc: sống ở đời phải biết trọng ân nghĩa, thủy chung.

- Cảm xúc, ấn tượng của người viết.

Chú ý: Tham khảo thêm các bài bên dưới! Thấy hay thì like và chia sẻ ngay nhé.